Hùng Vương
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Danh hiệu chung của các vị vua thời kỳ đầu dựng nước Văn Lang trong truyền thuyết và sử sách Việt Nam: "Hùng Vương" là tôn hiệu của 18 đời vua thuộc dòng họ Hồng Bàng, được coi là thủy tổ của dân tộc Việt Nam.
- Biểu tượng cho cội nguồn dân tộc và tinh thần dựng nước: "Hùng Vương" đại diện cho thời đại mở đầu lịch sử, là Quốc Tổ được toàn dân tôn kính và thờ phụng.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Truyền thuyết kể rằng các vị Hùng Vương đã có công dựng nên nước Văn Lang.
- "Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba" - câu ca dao nhắc nhở về ngày giỗ các vị Hùng Vương.
Các cách sử dụng nâng cao
- "Thời đại Hùng Vương": cụm từ dùng để chỉ giai đoạn lịch sử tương ứng với sự trị vì của 18 đời vua Hùng, gắn liền với nhà nước Văn Lang sơ khai.
- Các nhà khảo cổ đang tìm kiếm những bằng chứng vật chất về thời đại Hùng Vương.
- "Con Rồng cháu Tiên" / "Con Lạc cháu Hồng": những thành ngữ chỉ nguồn gốc cao quý của người Việt, xuất phát từ truyền thuyết về Lạc Long Quân - Âu Cơ, cha mẹ của các vị Hùng Vương.
- Lòng tự hào con Rồng cháu Tiên luôn gắn liền với hình ảnh các vua Hùng Vương.
Biến thể và từ liên quan
- Vua Hùng: cách gọi thân thuộc, phổ biến trong dân gian, cùng chỉ các vị Hùng Vương.
- Nhân dân luôn thành kính hướng về đất Tổ, nơi thờ các Vua Hùng.
- Quốc Tổ Hùng Vương: danh hiệu trang trọng, khẳng định vị thế là thủy tổ chung của cả dân tộc.
- Hùng triều: triều đại của các vua Hùng.
- Hùng Vương miếu: đền thờ các vị vua Hùng.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
- Lạc Vương: Một giả thuyết học thuật gần đây cho rằng danh hiệu gốc có thể là "Lạc Vương", do chép sai chữ "Lạc" thành chữ "Hùng". Tuy nhiên, cách gọi Hùng Vương đã trở thành phổ biến và chính thống trong ý thức dân tộc.
Thành ngữ, tục ngữ, ca dao liên quan
- "Cây có cội, nước có nguồn": Nhắc nhở về nguồn gốc, tổ tiên, thường được liên tưởng đến công ơn dựng nước của các Hùng Vương.
- "Uống nước nhớ nguồn": Đạo lý truyền thống, trong đó "nguồn" cũng được hiểu là cội nguồn từ thời các vua Hùng Vương.
- Câu đối tại Đền Hùng: (Trời đất còn dài, ức vạn năm vẫn truyền là quốc tổ; Tinh thần không mất, mười tám đời đều mang hiệu Hùng Vương.)
- Thủy tổ dân tộc Việt Nam, họ Hồng Bàng dựng nước, 18 đời đều xưng hiệu Hùng Vương: (theo Hùng triều ngọc phả và Thiên Nam bảo lục diễn ca)
- 1. Kinh Dương Vương Lộc Tục (X. Lộc Tục), tôn dâng miếu hiệu Hùng Dương
- 2. Lạc Long Quân Sùng Lâm (X.Sùng Lâm) thụy hiệu Hùng Hiền
- 3. Hùng Lân
- 4. Hùng Việp
- 5. Hùng Hi
- 6. Hùng Huy
- 7. Hùng Chiêu
- 8. Hùng Vĩ
- 9. Hùng Định
- 10. Hùng Hi
- 11. Hùng Trinh
- 12. Hùng Võ
- 13. Hùng Việt
- 14. Hùng Anh
- 16. Hùng Tạo
- 17. Hùng Nghị
- 18.Hùng Duệ
- Hiệu nước khi ấy là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu ( thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay). Toàn lãnh thổ chia làm 15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Võ Định, Võ Ninh, Lục Khải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Nam,Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn
- Về danh hiệu Hùng Vương, gần đây có nhiều học giả cho rằng chữ Lạc đã chép sai ra Hùng, nên phải gọi là Lạc Vương thay vì Hùng Vương
- Đến nay di tích hãy còn trên đỉnh Hùng Sơn, cách Hà Nội 97 cây số, cũng gọi là núi Đền, là Nghĩa Lĩnh hay Nghĩa Cương. Bia đề 4 chữ to" Cao sơn cảnh Hùng"
- Nơi đền thượng, phía ngoài nêu 4 chữ" Nam thiên triệu tô". Gian giữa, tấm hoành lớn ghi" Hùng Vương miế"u. Trên bàn thờ có ba bài vị, bài vị chính ghi" Khai quốc hồng đồ, đột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị, thập bát thế thánh vươn"g: Mười tám đời vua thánh dòng Hùng nước Việt xưa, non cao chất ngất nên sự nghiệp to mở nước
- Hai cột chính giữa điện có đôi câu đối:
- "Thiên địa trường tồn, ức vạn niên do truyền quốc tổ;
- "Tinh thần bất hủ, thập bát thế giai điệu Hùng Vương"
- (Trời đất con dài, ức muôn năm vẫn truyền là quốc tô;
- Tinh thần không diệt, mười tám đời, đều mang hiệu Hùng Vương)
- Trong đền có rất nhiều câu đối chữ Nôm và chữ Hán. Về chữ Nôm có hai câu đối đáng chú ý:
- "Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền cổ tích;
- Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương"
- Về chữ Hán, đôi câu đối sau đây bút pháp thần tình:
- "Vấn lai dĩ sự tu vi sử;
- Tế dục dư đồ dục mệnh thi"
- (Hỏi lại chuyện xưa nên chép sử ;
- Xem rành đồ bản muốn đề thơ)
- Có người cho đôi câu đối ấy là của chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm cách nay hơn 200 năm